Hiển thị các bài đăng có nhãn NHẬT BẢN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn NHẬT BẢN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 15 tháng 5, 2021

Ninja rốt cuộc là người thế nào? Tìm hiểu về nhiệm vụ và sứ mệnh của Ninja trong thời Chiến quốc

Ninja (Hán tự là Nhẫn giả 忍者) hay Shinobi là danh xưng chỉ cá nhân hoặc tổ chức đánh thuê hoạt động bí mật trong lịch sử Nhật Bản. Mặc đồ đen, vượt qua những bức tường cao bằng sức mạnh thể chất siêu phàm, và khi kẻ thù đến, chiến đấu, ném phi tiêu và biến mất. Có lẽ khi nghe nói đến từ Ninja, nhiều bạn sẽ hình dung như thế này.

Thực ra, cái tên "Ninja" chỉ bắt nguồn từ cuối những năm 1950, khi các tiểu thuyết lịch sử, manga và phim trở nên phổ biến trong đại chúng. Ngày xưa, những cá nhân, tổ chức hoạt động bí mật như thế được gọi là "Rappa" và "Suppa", và phổ biến nhất là “Shinobi (忍び)". Vì nhiệm vụ của Ninja là sử dụng các bí thuật để thực hiện các hành động bí mật, nên không có nhiều các tư liệu lịch sử mô tả về nó. Trong những năm gần đây, khi nghiên cứu về Ninja đã có nhiều tiến triển, tấm màn bí ẩn che đậy diện mạo thực sự đó đã dần được hé mở.

Tìm về làng Iga và Koga để nghiên cứu về Ninja

Có hai đầu mối để nghiên cứu về Ninja là làng Iga (thành phố Iga, tỉnh Mie) và Koka (thành phố Koka, tỉnh Shiga). Iga nằm ở phía tây bắc của tỉnh Mie, và Koka nằm ở cuối phía nam của tỉnh Shiga, tiếp giáp với nhau qua một ngọn núi. 

Kể từ năm 2012, đại học quốc lập Mie ở thành phố Tsu, nơi tiếp giáp với phía đông của thành phố Iga, đã nghiên cứu toàn diện về Ninja ở Iga." Yuji Yamada, một giáo sư của Khoa Nhân văn học của đại học cho biết, "hầu hết các cuốn sách viết về Ninja đều nhắc đến hai đầu mối là Iga và Koga. Do đó, trước hết phải khám phá hai ngôi làng này để biết Ninja."

Nhiều người tin rằng, Ninja được hình thành từ việc thuê người dân địa phương trong thời Chiến quốc. Tuy nhiên, theo giáo sư Yamada, Ninja ở làng Koka được thành lập từ những cư dân chống lại chế độ tư hữu đất đai (manorialism) của các lãnh chúa. Những cư dân này đã tổ chức một cuộc nổi loạn và thành lập một tổ chức tự trị tại làng Koka.

Còn các Ninja ở làng Iga Nin thì được thành lập xuất phát từ một nhóm băng đảng được sinh ra từ các cuộc chiến tranh giành đất đai. Hai ngôi làng này gần Kyoto, nên rất dễ dàng để có được những thông tin mới nhất về Kyoto. Về mặt địa hình, nó được bao bọc bởi các dãy núi nên thông tin bên trong ít bị rò rỉ ra ngoài, rất thích hợp cho các hoạt động gián điệp, tình báo. Cuộc sống khắc nghiệt trên núi cũng là môi trường tốt để tôi luyện cơ thể trở thành một Ninja. Ngoài ra, sự kiểm soát của các daimyo ở các địa phương lúc này còn yếu kém, dẫn tới nhiều tổ chức tự trị được ra đời.

Trong tiểu thuyết và manga, họ thường mô tả các Ninja là các đối thủ lẫn nhau nhưng thực tế các Ninja là “bạn hữu” và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Ngoài ra, các băng nhóm Ninja còn có mối quan hệ hôn ước nên thường xuyên trao đổi thông tin. Năm 1579, Nobuyuki, con trai của Oda Nobunaga, tấn công tỉnh Iga trong "Chiến tranh Tensho Iga", và các Ninja đã chống lại bằng một cuộc tàn sát ban đêm và “hỏa thuật”. Tất nhiên, Ninja của làng Koka cũng chiến đấu trong trận chiến đó,” ông Yamada giải thích.

Năm 1982, Ieyasu Tokugawa, khi nhận được cấp báo về "Sự kiện Honnoji" ở Sakai, nhờ sự bảo vệ bởi các Ninja của làng Iga và Koga, đã vượt qua vùng núi của Iga để trở về căn cứ địa của mình một cách an toàn. Do đó, Ieyasu đánh giá cao công việc của Ninja và tiếp tục kêu gọi họ bảo vệ lâu đài Edo. Từ đó, các daimyo khác cũng thuê Ninja làm vệ sĩ. Đó là lý do tại sao nhiều địa danh liên quan đến Iga và Koka vẫn còn ở nhiều vùng khác nhau của Nhật Bản.

Ninja không tham gia chiến đấu

Buổi sáng, các Ninja ở Iga và Koga tham gia vào các công việc của gia đình như làm nông. Đến trưa họ tập trung lại và tập luyện để thực hiện nhiệm vụ của mình." (Giáo sư Yamada)

Nhiệm vụ lớn nhất của Ninja là thu thập thông tin về kẻ thù và thông báo cho lãnh chúa. Để làm được điều đó, họ phải tránh chiến đấu hết sức có thể và sống sót và quay trở lại. Trong huấn luyện hàng ngày, các Ninja tập trung vào kỹ thuật để nâng cao sức mạnh phòng thủ để thoát khỏi kẻ thù, chứ không phải sức mạnh tấn công để đánh bại kẻ thù.

Ngoài việc cải thiện sức mạnh cơ bắp và sức bền, họ tập trung trau dồi cách thức sử dụng cơ thể và cách thở để tối đa hóa khả năng vận động. Đối với những Ninja thực hiện những nhiệm vụ nguy hiểm, họ phải trang bị cả một tinh thần sắt đá. Phải rèn luyện làm sao để có được một sức mạnh tinh thần linh hoạt đáp ứng với mọi hoàn cảnh, và không xoay chuyển trong bất kỳ tình huống nào.

Người ta nói rằng các “nhẫn thuật” mà Ninja đạt được là do bởi sự khéo léo và sự tìm tòi khoa học. Trong khi thành thạo các kỹ năng của mình, họ đã thu thập được nhiều thông tin và thu thập được nhiều bí quyết. Có thể nói đó còn là những kỹ thuật sinh tồn. Nhiều người trong số họ dùng “điểm mù” bằng cách sử dụng tâm lý con người một cách khéo léo. Thuật ẩn hình là một bí quyết biến mất khỏi tầm nhìn của người khác bằng cách dùng hành động để xuyên thủng điểm mù tâm lý như thế.

Các Ninja ở Iga và Koka có rất nhiều kiến ​​thức về thuốc súng và y học. Vì ở gần Kyoto nên họ có thể dễ dàng tiếp thu kiến ​​thức về súng. Họ thực sự rất nhiệt tình trong việc học hỏi, chẳng hạn như điều tra. Họ lặp lại thí nghiệm nhiều lần, biết rằng các công thức và vật liệu nổ khác nhau có tác dụng khác nhau.” (giáo sư Yamada)

Tinh thần Ninja trong thời đại hiện nay

Sứ mệnh của Ninja là lấy được thông tin để truyền tải thông tin cho thân chủ của mình. Do đó, họ phải học cách để tồn tại và sống sót trước mọi nghịch cảnh. Đó không phải là những siêu anh hùng, có những năng lực bẩm sinh mà là những chiến binh không ngừng học hỏi và vươn lên. Trong một thế giới vật chất được trang bị đầy đủ và sẵn có như ngày nay, tìm hiểu về Ninja, hiểu về sự nỗ lực rèn luyện, tinh thần bền bỉ của họ cũng là một cách thức để người hiện đại nên học hỏi. 

Ánh Hiền tổng hợp theo tạp chí Nippon

Viết cho Gbni: https://www.gbni.co.jp/recipe/ninja-ro%cc%82t-cuo%cc%a3%cc%82c-la-ngu%cc%9bo%cc%9bi-the%cc%82-nao-tim-hie%cc%82%cc%89u-ve%cc%82-nhie%cc%a3%cc%82m-vu%cc%a3-va-su%cc%9b-me%cc%a3/?fbclid=IwAR1wwk0-tVabHrAe5zNdHjA1jtd0wg1vjqdsTZX8V5xHnLm78Fy0MZjC-tE





Tại sao người Nhật lại có phong tục ngắm hoa dưới tán cây anh đào? Tìm hiểu câu chuyện sâu sắc về hoa anh đào và văn hóa Nhật Bản

Vào thế kỷ thứ 10 thời Bình An, Pháp sư Soukei, khi chứng kiến những cánh đào mỏng manh rơi xuống bởi cơn gió, ông đã tiếc thương và thốt lên rằng:

“Có ai chỉ hộ ta

Ngọn gió cuốn anh đào

Đang trọ ở đâu không?

Ta muốn đến tận nơi

Để tỏ lòng oán hận.” (Nguyễn Nam Trân dịch)

Có rất nhiều bài thơ waka nói về tình yêu đối với hoa anh đào trong thời Heian. Từ cuối thời Heian đến thời Kamakura, hễ tứ thơ nào nói về hoa, đa số đều nhắc đến hoa anh đào. Có thể thấy rằng hoa anh đào là loài hoa đại diện áp đảo của các loài hoa trong thời kỳ này. Cuốn Đồ nhiên thảo (徒然草) - tập hợp các bài tiểu luận được viết bởi nhà sư Nhật Bản Yoshida Kenkō trong khoảng thời gian từ 1330 đến 1332, mô tả rằng, mỗi khi ngắm hoa, giới quý tộc thưởng đọc thơ, thưởng trà trong không khí thanh nhà; trong khi đó thì những người nông thôn mới đến chốn kinh kì thì uống trà, trò chuyện ồn ào khi ngắm hoa. 

Văn hóa ngắm hoa tùy theo giai cấp, mỗi thời mỗi khác. Với người Nhật hiện đại, mùa xuân cũng là mùa khởi đầu mới, mùa nhập học, mùa nhập vào công ty. Những bông hoa anh đào đã tô màu cho những khởi đầu rực rỡ ấy, cảnh tượng đó có lẽ đã để lại ấn tượng sâu đậm trong tâm trí nhiều người dân sống trên đất nước này. Để hiểu mối quan hệ sâu sắc giữa anh đào và người Nhật, trước hết chúng ta phải quay lại thời đại xa xưa.

Sakura là loài hoa được tôn thờ từ thời thần thoại

Trong “Cổ sự kí” và “Nhật Bản thư kí” đề cập đến mối quan hệ giữa hoa anh đào và người Nhật qua nữ thần Konohanasakuya-hime (木花開耶姫 (Mộc Hoa Khai Da Cơ)) - một nhân vật trong thần thoại Nhật Bản, nàng công chúa của hoa nở, vị thần tượng trưng cho những đóa hoa anh đào. Có giả thuyết cho rằng từ sakura (hoa anh đào) xuất phát từ "Sakuya" trong cái tên Konohanasakuya. Trong dân gian, lại có giả thuyết cho rằng "Sa", có nghĩa là thần của cánh đồng lúa, và "Kura", nghĩa là ngai vàng của Thần, kết hợp lại tạo thành "Sakura". Nhật Bản thời xa xưa, người dân sống bằng nghề nông. Họ tin rằng, vị thần của những cánh đồng lúa ngự trong những bông hoa anh đào nở rộ đó, nên Sakura là loài hoa được tôn thờ như một sự biết ơn vị thần đã trông coi mùa màng. 

Thời kì Nara, hoa anh đào có vị thế thấp hơn hoa mận

Trong thời kỳ Nara, thời kì ảnh hưởng văn hóa từ Trung Hoa, những đóa mận thơm và đầy màu sắc mà những người quý tộc đã đem về từ Trung Quốc chiếm được trái tim của người quý tộc hơn hoa anh đào. Có thể thấy rõ điều này qua số lượng bài hát được viết trong "Vạn Diệp Tập" , trong đó chỉ có 43 bài thơ viết về hoa anh đào nhưng số bài thơ về mận lại chiếm đến 110 bài. 

Tuy nhiên, đối với những người dân thường sống và tôn thờ thiên nhiên, hoa anh đào nơi thần đồng lúa ngự, là loài hoa họ biết ơn, có vẻ như không có gì có thể thay thế được. Bước vào thời Bình An, khi Heiankyo (tên gọi cũ của Kyoto) được chọn làm kinh đô, văn hóa quốc gia bắt đầu phát triển phong phú. Kể từ thời Thiên hoàng Nhân Minh (仁明天皇), hoa mận được trồng thay thế thành hoa anh đào trong cung điện, từ đó lan truyền đến giới quý tộc. 

Thời điểm ngắm hoa anh đào sớm nhất trong văn học được cho là vào năm 831 qua sự kiện “anh yến (花宴 - tiệc ngắm hoa) được tổ chức bởi Hoàng đế Saga tại Vườn Shinsen-en, và kể từ đó nó trở thành một sự kiện thường xuyên trong cung điện. Thậm chí, sự kiện này cũng được mô tả trong phần viết về “anh yến” trong "Genji Monogatari".

Sự kiện ngắm hoa anh đào quy mô lớn do Hideyoshi tổ chức

Tuy nhiên, mãi cho đến thời Edo, hoa anh đào mới trở thành “quốc hoa” trong tâm trí người Nhật. Trong thời này, tại đền Kaneiji - ngôi đền do tướng quân Tokugawa Iemitsu xây dựng, một số lượng lớn cây anh đào hoang dã ở Yoshino đã được ghép cành, từ đó xuất hiện dãy cây hoa anh đào đầu tiên ở Edo. Sau đó, vị tướng quân Mạc Phủ Yoshimune thứ 8 đã tạo ra các điểm ngắm hoa anh đào để người dân Edo có thể thưởng lãm. 

Sau đó, vào thời Azuchi-Momoyama, một lễ hội ngắm hoa anh đào quy mô lớn có tên gọi “Yoshino-no-hanami, 吉野の花見” lần đầu tiên được tổ chức bởi Toyotomi Hideyoshi. Sự kiện được tổ chức trong năm ngày, mời 5.000 trong đó có các nhân vật ảnh hưởng như Ieyasu Tokugawa, Toshiie Maeda và Date Masamune đến núi Yoshino - nơi trồng 1000 cây anh đào được lai ghép từ Osaka - tham dự. Vào năm 1598, lễ hội ngắm hoa " Daigo no Hanami " lớn thứ 2 được tổ chức tại chùa Daigo-ji, nơi có đến 700 cây anh đào được lai ghép với khoảng 1300 người tham dự.

Dù chỉ có thể ngắm vào mùa xuân nhưng hoa anh đào lại có ý nghĩa vô cùng lớn đối với người Nhật bởi sakura gợi lên những ký ức đã gắn bó với cuộc sống của con người Nhật. Đó là lý do tại sao mỗi khi mùa xuân về, người Nhật luôn nô nức chờ đợi.

Ánh Hiền

Viết cho: https://www.gbni.co.jp/recipe/ta%CC%A3i-sao-ngu%CC%9Bo%CC%9Bi-nha%CC%A3%CC%82t-la%CC%A3i-co-phong-tuc-nga%CC%86m-hoa-du%CC%9Bo%CC%9Bi-tan-ca%CC%82y-anh-dao-tim-hie%CC%82%CC%89u-ca%CC%82u/


Thứ Bảy, 20 tháng 2, 2021

 Nhiều người thường nghĩ người Nhật không theo tôn giáo? Thực tế thì như thế nào?

Năm 1996, học giả tôn giáo Ama Toshimaro đã xuất bản một cuốn sách có tên gọi "Tại sao người Nhật không theo tôn giáo". Khi dịch sang tiếng Anh và tiếng Hàn đã thu hút rất nhiều chú ý từ trong và ngoài nước. Theo ông Ama, người Nhật được cho là không tôn giáo, nhưng đó có thể là do họ được so sánh với “tôn giáo giáo phái (創唱宗教)”. Tôn giáo giáo phái là khái niệm chỉ một tôn giáo có một giáo tổ cụ thể và giáo lý rõ ràng. Cơ đốc giáo có Chúa Giê-xu Christ, Phật giáo có Phật Gotama, và đạo Hồi có Muhammad. Mặt khác, Ấn Độ giáo và Thần đạo thì không có giáo tổ cụ thể nào. Hơn nữa, tín ngưỡng dân gian cũng không có giáo tổ cụ thể, được thực hành một cách tự nhiên bởi những người vô danh.

Dù vậy, tôn giáo Nhật Bản bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tôn giáo giáo phái. Phật giáo, du nhập vào thế kỷ thứ 6, là tôn giáo có ảnh hưởng nhất cho đến giữa thế kỷ 19. Nhiều người Nhật vẫn tổ chức tang lễ theo phong cách Phật giáo hoặc làm quen với các bức tượng Phật giáo, và một số người có thể phân biệt giữa Phật A Di Đà, Bồ tát quan âm và Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát. Việc người dân đến viếng mộ hàng năm, chắp tay trước mộ là một cách biểu hiện thờ Phật.

Từ nửa sau của thế kỷ 19, tôn giáo Nhật chịu nhiều ảnh hưởng bởi Cơ đốc giáo. Tuy nhiên, mặc dù ảnh hưởng văn hóa của Cơ đốc giáo thông qua trường học và học thuật là lớn, Cơ đốc giáo với tư cách là một nhóm tôn giáo chỉ chiếm khoảng 1% tổng dân số Nhật Bản. Cho đến giữa thế kỷ 19, Thần đạo hoàn toàn không thể tách rời khỏi Phật giáo, và bị ảnh hưởng rất lớn bởi Phật giáo.

Niềm tin của người Nhật dựa trên tôn giáo tự nhiên

Tuy nhiên, mặc dù ảnh hưởng của tôn giáo giáo phái có thể tồn tại ở một mức độ nào đó như đã đề cập ở trên, ông Ama nói rằng cơ sở của tín ngưỡng Nhật Bản nói chung là tôn giáo tự nhiên. Người ta thờ thần đất và thần nhà, nhưng giáo lý thường kém phát triển. Thần đạo theo nghĩa rộng được xem là không phải là tôn giáo hoặc chỉ là tín ngưỡng dân gian. Vì vậy, khi gặp một tôn giáo giáo phái mạnh, nhiều người Nhật nghĩ rằng họ không quen thuộc với tôn giáo giáo phái. Đó là lý do tại sao nhiều người Nhật tự cho mình là “vô tôn giáo” với nghĩa là họ không tin vào “tôn giáo” (tôn giáo giáo phái) theo nghĩa hẹp.

Ngoài ra, ông Ama giải thích sự tồn tại của "tôn giáo tự nhiên", không phải lúc nào cũng là tôn giáo lỗi thời. Cũng có ý kiến ​​cho rằng bản thân tôn giáo tự nhiên đã là một tôn giáo từ thời người nguyên thủy, và đó là tôn giáo giáo phái ra đời vào giai đoạn xã hội đã phát triển và có trí tuệ siêu phàm hơn tôn giáo giáo phái. Có thể nói Thần đạo của Nhật Bản là một tôn giáo gần với tôn giáo tự nhiên. Ở Nhật Bản, tôn giáo tự nhiên là tôn giáo có trước khi Phật giáo ra đời.

Nho giáo là "một loại tôn giáo"

Từ một góc độ khác, có thể lưu ý rằng ngay cả những người Nhật Bản không quen với "tôn giáo" bản thân họ cũng đã quen với "một cái gì đó giống như tôn giáo" theo nhiều cách khác nhau. Ví dụ như là Nho giáo. Người Nhật coi trọng rất lễ nghĩa. Người Nhật cúi chào mọi người, được cho là phần lớn chịu ảnh hưởng của Nho giáo. Ngoài ra, người Nhật cũng rất chú trọng sử dụng kính ngữ. Ngay cả ở học sinh trung học cơ sở, trung học phổ thông và sinh viên đại học, cách nói dành cho đàn anh và cách nói dành cho đàn em cũng rất khác nhau, vì họ coi trọng việc “trật tự của thứ bậc và tuổi tác”. Việc coi trọng lòng biết ơn đối với người đã khuất cũng là một đặc điểm của Nho giáo. Ông cho rằng, ma chay và viếng mộ là một phần của Phật giáo, nhưng thực tế có thể nói bị ảnh hưởng của Nho giáo. Nho giáo có phải là “đạo” hay không phụ thuộc vào việc nó được định nghĩa như thế nào là “đạo”, và còn tùy thuộc vào việc coi trọng “sinh mệnh” của “trời”, sự liên tục của đời sống được truyền từ tổ tiên cho con cháu, và lễ nghi như thế nào. Ở Đông Á, từ "đạo" được xem như là một từ để chỉ "tôn giáo" (từ có nguồn gốc từ phương Tây). Đối với người Nhật trong thế kỷ 17 và 18, cả Phật giáo và Nho giáo đều dạy con người về “đạo”.

"Thần đạo quốc gia" lan truyền ở trường học

Có thể nói rằng rất nhiều "tôn giáo" ảnh hưởng đối với người Nhật. Ảnh hưởng nhất trong số đó có lẽ là "Thần đạo quốc gia." Cho đến năm 1945, các trường học Nhật Bản rất coi trọng "sắc ngữ giáo dục (教育勅語)" được chính quyền Minh Trị ban hành. Đó là lời dạy thiêng liêng được truyền cho người dân vào năm 1890 bởi Hoàng đế Minh Trị lúc bấy giờ về tinh thần cơ bản của giáo dục. Sau đó, trường tiểu học trở thành nơi được hướng dẫn bởi những lời dạy thiêng liêng của Thiên hoàng. Từ đó, nhiều người Nhật đã quen với việc thờ cúng thần thoại. Anh tôn thờ Ise Jingu và Hoàng cung, đến thăm đền Yasukuni và Meiji Jingu. Đó được gọi là Thần đạo quốc gia. Mặc dù hiện nay, chủ trương “thần đạo quốc gia” đã không còn, nhưng ảnh hưởng của nó đến suy nghĩ của người Nhật vẫn còn. Vì vậy, rất khó để nhận thức rằng đó là một "tôn giáo" cụ thể theo nghĩa thông thường..

Quan điểm tôn giáo của người Nhật hiện đại 

Trong những năm gần đây, từ samurai trở nên phổ biến hơn với thế giới, một phần do ảnh hưởng của bộ phim "Last Samurai" được ra mắt năm 2003 của Mỹ. Samurai chỉ một thế giới, nơi bạn chiến đấu cho cuộc sống của mình và sống mỗi ngày với quyết tâm rằng bạn có thể từ bỏ mạng sống của mình cho người chủ của mình. Một nhận thức thường xuyên suốt về cái chết là một yếu tố quan trọng. Mọi người bị cuốn hút mạnh mẽ vào hệ tư tưởng như vậy. Họ tìm kiếm manh mối về những gì họ đang sống, có vẻ như họ cảm thấy rằng có một chút gợi ý về lý tưởng, hành động của samurai. Theo cách này, có rất nhiều người Nhật Bản cảm thấy xa cách với tôn giáo, nhưng thực chất họ đã tham gia theo nhiều cách khác nhau với cái được gọi là "đạo".

Tại sao nhiều người thường nghĩ người Nhật không theo tôn giáo? Lý giải cho câu trả lời này còn tùy thuộc vào một câu hỏi khác, thực tế thì thế nào được gọi là “tôn giáo”.


Ánh Hiền tổng hợp theo bài viết của giáo sư Thần học Shimazono Susumu đăng tải trên tạp chí Nippon


Nguồn: https://www.gbni.co.jp/recipe/nhieu-nguoi-thuong-nghi-nguoi-nhat-khong-theo-ton-giao-thuc-te-thi-nhu-the-nao/?fbclid=IwAR1WM5xTYRz2MGwqhte_isqY-CvVAUlhlwAN-Q1tvECXsbLwcOiKycL-gP0


Thứ Hai, 8 tháng 2, 2021

 Tham qua nhà vệ sinh lâu đời nhất Nhật Bản ở chùa Tofukuji

Ảnh: https://services.osakagas.co.jp/portalc/contents-2/pc/tantei/1274923_38851.html



Một trong những điều ấn tượng để lại cho nhiều du khách khi đến Nhật là "nhà vệ sinh" mà họ sử dụng trong thời gian lưu trú. Với tinh thần phục vụ khách hàng cần mẫn và sự cân nhắc tinh tế trong việc sử dùng công nghệ cao, người Nhật đã tạo ra một không gian rất thoải mái cho người dùng. Vậy thì, để tạo ra được dịch vụ hoàn hảo như bây giờ, lịch sử hình thành nhà vệ sinh của Nhật Bản diễn ra như thế nào? Mời bạn theo dõi bài viết sau.


Lịch sử nhà vệ sinh

Nhà vệ sinh lâu đời nhất trên thế giới được tìm thấy trong tàn tích của Tell Asmar, một thành phố được xây dựng dưới triều đại Akkad của nền văn minh Lưỡng Hà cổ đại (Iraq ngày nay). Đó là một loại ghế đẩu được làm bằng gạch có hình dạng như một chiếc ghế, và mặc dù được làm vào khoảng năm 2200 trước Công nguyên, nó có thể giặt được.

Dựa theo kết quả phân tích bùn ở thung lũng gần địa điểm Miuchi Maruyama ở tỉnh Aomori, người ta ước tính rằng ở Nhật Bản, từ đầu thời kỳ Jomon cách đây khoảng 5.500 năm, hành vi đào thải của con người đã được quyết định tại một địa điểm cố định. Tuy nhiên, trong giai đoạn này nhà vệ sinh vẫn chưa được hình thành.

Vậy thì, nhà vệ sinh lâu đời nhất ở Nhật Bản nằm ở đâu? Điểm đến là chùa Tofukuji, nơi nổi tiếng để ngắm cảnh sắc mùa thu ở Kyoto. Tofuku-ji là một ngôi chùa có diện tích rộng thuộc tông phái Lâm Tế (Rinzaishu), được xây dựng vào năm 1236 bởi Kujo Michiie - một trong những người có quyền lực bật nhất thời Kamakura. Nhà vệ sinh ở Tofukuji nằm ở phía nam, được gọi là Đông ti (東司). Đó là một toà nhà rộng rãi, 35 mét theo hướng Bắc Nam và 14 mét Đông Tây và là nhà vệ sinh dành cho chư tăng thuộc phái Thiền tông.

Đông ti là một công trình kiến ​​trúc bằng gỗ khổng lồ có chiều cao khoảng 30m x 10m x 10m, khá rộng và trang nghiêm. Bên trong tòa nhà Đông ti là các lỗ được xếp thành hàng có độ sâu khoảng 20 đến 30 cm, ngày xưa người ta dùng hai loại chai, một loại đựng phân to và một loại đựng phân nhỏ. Vì các lỗ này có số lượng nhiều và kích thước rất rộng, nên còn được gọi là "bách tuyết ẩn (百雪隠) , tức là nơi mà 100 người có thể đi vệ sinh cùng một lúc. Hiện nay, Bách tuyết ẩn được công nhận là tài sản văn hóa quan trọng của quốc gia, là nhà vệ sinh lâu đời nhất của Nhật Bản được xây dựng vào đầu thời kỳ Muromachi. Để được tham quan không gian có ý nghĩa lịch sử này cần phải có sự cho phép đặc biệt của ban quản lý.

https://services.osakagas.co.jp/portalc/contents-2/pc/tantei/1274923_38851.html

Đặc biệt, thuở xưa, phân của các nhà sư còn được dùng làm phân bón cho những cánh đồng trong khuôn viên chùa. Đó cũng là một nguồn thu nhập quý giá của ngôi đền bằng cách bán nó cho những người nông dân trồng rau ở Kyoto gần đó. Sở dĩ có được điều này, với phái Thiền tông, việc đi vệ sinh cũng là một cách hành thiền quan trọng. Không chỉ khi toạ thiền, mà mọi thứ trong cuộc sống hàng ngày của bạn đều là thực hành, và khi ngồi xuống, bạn cũng thiền, khi đi bộ, bạn cũng thiền. 

Đông ti là một trong những công trình kiến ​​trúc quan trọng cần phải có trong một hệ thống kiến trúc gọi là Thất đường già lam (七堂伽藍). Trong đó, thiền đường (禅堂 - nơi hành thiền), dục thất (nhà tắm) và đông ti (東司 - nhà vệ sinh) còn được gọi là Tam mặc đường. Khi vào 3 nơi này, tuyệt đối không được cười nói, vì thế gọi là Tam mặc đường (3 khu vực im lặng). Nếu có dịp hãy tham quan địa điểm thú vị này nhé.

Nhà vệ sinh là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta. Câu chuyện về nhà vệ sinh cổ nhất của Nhật được viết trong "Cổ sử kí - 古事記" đề cập đến một nơi được xây dựng trên con mương nơi nước chảy ra. Từ đó, "Kawaya (川屋 - xuyên ốc) còn có nghĩa là một tòa nhà nhô ra trên sông, và đó cũng là nguồn gốc của chữ "厠 (nhà xí)". Khi tìm hiểu về nhà vệ sinh cổ nhất còn lại ở Nhật Bản ở một ngôi chùa Tofukuji qua bài viết này, nơi nổi tiếng để ngắm cảnh sắc mùa thu ở Kyoto, nó lại mang lại cho tôi nhiều cảm giác khác, rất thú vị và thật mới mẻ.

Nguồn: https://www.gbni.co.jp/recipe/tham-quan-nha-v-sinh-lau-di-nht-nht-bn-nha-v-sinh-nippon-ca-maritomobr/

Ánh Hiền

 

 

 

 

 

 


Khám phá văn hóa dùng đũa của Nhật Bản với khung cảnh ăn uống xưa của người Nhật

 Khám phá văn hóa dùng đũa của Nhật Bản với khung cảnh ăn uống xưa của người Nhật

https://www.photo-ac.com/main/detail/1394945?title=%E6%AD%A3%E6%9C%88&searchId=1342082922

Có rất nhiều quốc gia sử dụng đũa chăng hạn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam và Mông Cổ. Với Nhật Bản, đũa cũng là một văn hóa. Đũa hiện hữu trong mọi ngôi nhà và mọi gian bếp của họ. Người Nhật có thành ngữ nổi tiếng thế này, “khởi đầu bằng đũa, kết thúc cũng bằng đũa (箸に始まり箸に終わる), thể hiện một vai trò quan trọng với con người từ khi sinh ra đến khi lìa đời. 

Nói cách khác, đũa bắt đầu hiện diện sớm với người Nhật khi ra đời, trong các bữa ăn hàng ngày và trong nghi lễ gắp xương khi làm truy điệu, khi dùng để cắm xuống bát cơm cúng trong đám tang. Đó không chỉ là công cụ để ăn uống mà còn liên quan mật thiết đến các nghi lễ của một đời người theo Thần đạo và Phật giáo. 

Vào ngày thứ 100 sau khi ra đời, lần đầu tiên đứa trẻ sẽ được cho ăn bằng đũa nhằm cầu mong đứa trẻ được khỏe mạnh đến suốt đời. Nghi lễ này còn được gọi là "khai thực (お食い初め). Trong tiếng Nhật, "đũa" và "cây cầu" là từ đồng âm khác nghĩa. Xưa nay, người ta coi đôi đũa là vật thiêng, là một trong những cách thức kết nối Thần và người. Họ quan niệm, ăn bằng đũa là cách thức chia sẻ thức ăn với các vị Thần. Một đầu đũa là của con người và đầu kia là của các vị thần. Vào bữa ăn, hai chiếc đầu đũa chạm vào nhau như thể một cây cầu được xây dựng giữa Thần thánh và con người. 

Đũa xuất hiện ở Nhật khi nào?

Vào thời kì cổ đại Nhật Bản, đũa vẫn chưa có hình dáng như bây giờ, đầu đũa được uốn cong, và nối với nhau như một chiếc nhíp. Nó được gọi là "đũa gấp (折箸 - chiết trứ)" và chỉ có thể được sử dụng bởi hoàng đế. Đũa gồm 2 chiếc lần đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản vào nửa đầu thế kỷ thứ 7. Là vật phẩm mà phái đoàn do Thái tử Seitoku cử đến Trung Quốc đã mang về Nhật từ Trung Quốc. Thói quen dùng hai đũa trong bữa ăn cũng bắt đầu từ thời điểm này. Ngoài ra, lúc đầu, đũa chỉ được làm từ tre nên phần trên của chữ Hán "箸 (đũa)" có chữ Hán nghĩa là "tre" là vì vậy.

Vào thời Heian, đũa đã được dựng lên bát cơm!

Trước hết, xin vui lòng xem bức tranh bên dưới. 

https://dl.ndl.go.jp/


Bức tranh cuộn được vẽ vào thời Heian có tên là "Bệnh thảo chỉ (病草紙) ", một tư liệu quý giá mô tả tình trạng bữa ăn của người dân thường. Bức tranh mô tả một người đàn ông bị viêm nha chu, răng của ông ta lung lay, đau đớn và không thể cắn được. Điều chú ý ở bức tranh này hình ảnh về chiếc đũa. Đôi đũa đang được cắm thẳng xuống trong bát cơm. Một hình ảnh thường được thấy trong các đám tang thời hiện đại, việc cắm đũa vào cơm trong bữa ăn như thế được cho là húy kỵ.

Tuy nhiên, vào thời đại Heian, đũa được dựng theo cách này không chỉ ở những người dân thường mà còn được thấy trong bữa tiệc mang tên "Đại hưởng (大饗)" của giới quý tộc. Có nhà nghiên cứu cho rằng, không phải tất cả những người bình thường trong thời đại Heian đều có thể ăn uống như "người đàn ông bị chứng viêm nha chu" trong bức họa này. Qua chiều dài chiếc đũa của họ, có thể thấy được độ giàu có của gia đình này như thế nào.

Ảnh hưởng của nghi lễ Thần đạo đến đôi đũa

Đũa là dụng cụ liên quan mật thiết đến các nghi lễ Thần đạo. Khi dùng đũa để làm lễ, người ta thường đặt cẩn thận trong một vật dụng đựng đồ khác gọi là “giá gác đũa”. Giá gác đũa là một vật đặc biệt được sử dụng trong các nghi lễ của Thần đạo, và vào thời Heian, mọi người từ quý tộc đến bình dân thường vẫn để đũa vào bát cơm trong bữa ăn chứ không dùng giá gác đũa. Người ta tin rằng những chiếc giá gác đũa được bắt đầu sử dụng kể từ thời kỳ Edo.

Tuy nhiên, nó không quá phổ biến vào thời Edo, chỉ khi văn hóa phương Tây du nhập vào thời Minh Trị, gia đình bắt đầu quây quần bên một chiếc bàn, do cân nhắc đến yếu tố vệ sinh, giá gác đũa mới bắt đầu được sử dụng một cách nghiêm túc. Ngày nay, có rất nhiều loại giá gác đũa hay hộp đựng đũa được bày bán như một cách để tiếp đãi khách hàng và làm tăng tính thẩm mỹ trên bàn ăn.

Và nếu quan sát, bạn sẽ thấy rằng nhiều người Nhật kiêng kị dùng chung đũa với người khác kể cả là người trong cùng một gia đình. Mỗi người thường có đôi đũa dùng riêng cho cá nhân, chỉ là vật thiêng của chính mình. Điều này xuất phát từ quan niệm, đũa còn là vật thiêng như chiếc cầu kết nối với thần linh vẫn còn trong tâm tưởng cho đến ngày nay.

Ánh Hiền




Tại sao nói cà phê lon là một nét văn hóa độc đáo của Nhật Bản?

 Tại sao nói cà phê lon là một nét văn hóa độc đáo của Nhật Bản?


https://www.photo-ac.com/main/detail/2374760?title=%E8%87%AA%E5%8B%95%E8%B2%A9%E5%A3%B2%E6%A9%9F%E3%80%80%E9%A3%B2%E3%81%BF%E7%89%A9%E3%82%92%E8%B2%B7%E3%81%86%E5%A5%B3%E6%80%A7&searchId=176682176


Nhắc đến cà phê, chúng ta thường nghĩ ngay tới những thương hiệu nổi tiếng như cà phê Thổ Nhĩ Kỳ, cà phê au lait của Pháp, hay cà phê Espresso. Còn gì thích thú hơn khi vừa nhâm nhi một tách cà phê vừa trò chuyện với bạn bè. Với các quốc gia ngoại trừ Nhật Bản, cà phê là một văn hoá “ngồi và uống". Nhật Bản thì trái lại. Văn hoá cà phê đậm nét của Nhật Bản là cà phê lon, thức uống có thể mua dễ dàng tại một máy bán hàng tự động chỉ với khoảng 120 Yên. 


Lịch sử phát triển cà phê ở Nhật 

Cà phê du nhập vào Nhật Bản vào giữa thời kỳ Edo, do một người Hà Lan mang đến từ Nagasaki. Tuy nhiên, đối với người Nhật lúc bấy giờ, mùi thơm và vị của cà phê không khác gì một thứ “đồ uống có mùi khét”. Vì vậy, cà phê vào thời điểm đó vẫn chưa được chấp nhận. 

Bước sang thời Minh Trị, thời đại mà văn hoá phương Tây ảnh hưởng sâu rộng, lần đầu tiên vào năm 1888, một quán cà phê đầu tiên ở Nhật Bản được mở tại Tokyo với tên gọi “可否茶館 (Khả phủ trà quán). Chủ sở hữu của Khả phủ trà quán là một người từng du học ở Hoa Kỳ và muốn biến nơi đây thành nơi dừng chân cho các văn nghệ sĩ tụ tập. Tuy nhiên, ý tưởng của ông không phù hợp với thời đại và Khả phủ trà quán đã đóng cửa sau 4 sau đó. Vào cuối thời Minh Trị, văn hóa quán cà phê ở Nhật bắt đầu được khởi sắt với sự ra đời của các quán cà phê như Cafe Paulista và Cafe Printemps ở khu vực Ginza, thu hút nhiều người văn nghệ sĩ.

Trong giai đoạn chiến tranh, do cà phê bị áp dụng thuế nhập khẩu rất cao, cà phê trở thành thức uống xa xỉ. Cụ thể, cà phê bị hạn chế nhập khẩu theo Đạo luật Huy động vốn Quốc gia ban hành năm 1938. Năm 1944, cà phê thì hoàn toàn bị đình chỉ nhập khẩu, dẫn tới văn hóa cà phê Nhật Bản bị gián đoạn một thời gian dài.

Mãi cho đến năm 1950, cà phê mới được nhập khẩu trở lại. Trong thời kỳ này, các công ty như UCC và Key Coffee bước vào ngành cà phê, và số lượng các cửa hàng cà phê đã tăng lên. Vào năm 1965, Yoshitake Miura, một chính trị gia người Nhật, đồng thời là chủ quán cà phê đã phát minh ra cà phê đóng hộp, và văn hóa cà phê Nhật Bản đồng loạt nở rộ từ đó. 

 

 

Văn hoá cà phê lon của Nhật

Đối với người Nhật, cà phê không phải là “thức uống để thư giãn”. Nói tóm lại, cà phê được định vị giống như một thức uống dinh dưỡng để có thể làm việc trong một thời gian dài, với rất hương vị, chủng loại khác nhau ngay cả khi nó cùng một nhãn hiệu. Thậm chí, người ta ước tính rằng, hầu như mỗi tuần, đều có sản phẩm mới được các nhà sản xuất cà phê tung ra thị trường. 

 

Vào những năm 1990, Nhật Bản trải qua thời kì suy thoái kinh tế bong bóng, khiến nhiều quán cà phê phải đóng cửa vì nhiều chủ doanh nghiệp không thể trả nổi chi phí thuê đất, và chi phí hạt cà phê nhập khẩu tăng do đồng Yên mất giá. Cửa hàng cà phê đầu tiên của "Starbucks" được mở tại Ginza vào năm 1996, được cho là có ảnh hưởng lớn đến ngành cà phê Nhật Bản sau này. 

Tuy nhiên, việc thưởng thức chậm rãi một li cà phê ở một tiệm Starbucks đòi hỏi mất khá nhiều thời gian. Trong khi đó, Nhật Bản là một quốc gia có đời sống bận rộn, đặc biệt vào hậu thời kì bong bóng. Để cà phê lon được phát triển mạnh mẽ, sâu rộng vào dân chúng, phải kể đến sự kiện "Seven Cafe" của Seven Eleven bắt đầu hoạt động vào năm 2013 với một máy pha cà phê được đặt bên cạnh quầy thu ngân để có thể bán cafe cho người dùng với chi phí thấp. Với hiệu ứng tốt mà Seven Cafe mang lại, các cửa hàng tiện lợi khác như Lawson và Family Mart cũng tham gia vào ngành cà phê.

 

Các cửa hàng tiện lợi ở Nhật Bản là nơi được người nước ngoài và người Nhật sống ở nước ngoài để mắt tới. Tại các cửa hàng tiện lợi của Nhật Bản, hàng chục loại trà, hàng chục loại bánh kẹo, và kem được xếp một cách chỉn chu. Và thú vị nhất là cà phê lon. Khác với những nơi khác trên toàn thế giới, một trong điều thích thú khi mua sắm ở cửa hàng tiện lợi hay trước máy bán hàng tự động, bạn có thể choáng ngợp với sự đa dạng về chủng loại của nó. Đó là một trong những nét văn hoá độc đáo của Nhật Bản bạn có thể cảm nhận được khi so sánh với các nền văn hoá khác.

Nguồn: https://www.gbni.co.jp/recipe/tai-sao-noi-ca-phe-lon-la-mot-net-van-hoa-doc-dao-cua-nhat-ban/

Ánh Hiền

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 






Thứ Tư, 13 tháng 1, 2021

Ca phẫu thuật gây mê toàn thân đầu tiên trên thế giới là phẫu thuật cắt bỏ ung thư vú trong thời kỳ Edo

 

Ca phẫu thuật gây mê toàn thân đầu tiên trên thế giới là phẫu thuật cắt bỏ ung thư vú trong thời kỳ Edo

Vào thời đại Edo, khi dịch vụ chăm sóc y tế chưa phát triển tiên tiến như ngày nay, đã có một bác sĩ người Nhật tiến hành ca phẫu thuật ung thư vú bằng cách gây mê toàn thân đầu tiên trên thế giới khiến nhiều người kinh ngạc. Vị bác sĩ này là ai? Cùng mình tìm hiểu nhé.

Tiểu sử về Hanaoka Seishu

Vị bác sĩ làm nên lịch sử này là Hanaoka Seishu (華岡 青洲), sinh ngày 30 tháng 11 năm 1760, mất vào ngày 21 tháng 11 năm 1835 trong một gia đình có truyền thống làm nghề bác sĩ. Với khát khao chữa bệnh cho người khác từ khi còn nhỏ, lớn lên Seishu theo học ngành y học Trung Quốc và phẫu thuật của Hà Lan tại Kyoto, nơi dịch vụ y tế đang phát triển mạnh mẽ. Trong quá trình học và hành nghề, Seishu nhận thấy giới hạn của việc chăm sóc y tế châu Âu trong giai đoạn này là không có thuốc gây mê, đặc biệt khi đọc được mô tả về loại thuốc gây mê “Ma phi tán (麻沸散)” trong sách y khoa, đã mạnh mẽ thúc giục ông bắt đầu nghiên cứu sự phát triển của thuốc gây mê cho riêng mình.




Ca phẫu thuật đi vào lịch sử

Bệnh nhân của ca phẫu thuật lịch sử là một phụ nữ 60 tuổi tên Aiyakan bị ung thư vú. Ở châu Âu, vào thời điểm này cũng có tiến hành phẫu thuật ung thư vú nhưng không dùng biện pháp gây mê. Ở Nhật Bản, trong giai đoạn này, phẫu thuật thì được xem là một biện pháp nguy hiểm đến tính mạng của bệnh nhân.Seishu đã tìm hiểu về các phương pháp điều trị của châu Âu và quyết định phẫu thuật ung thư vú ở Nhật Bản. Tuy nhiên, việc cắt bỏ toàn bộ khối ung thư cần phải cắt bỏ một lượng lớn vú, trong đó gây mê để giảm đau cho bệnh nhân là điều cần thiết. Vì vậy, ông đã sử dụng một loại thuốc gây mê tổng quát có tên là Thông tiên tán (通仙散) do mình phát triển để phẫu thuật. Ca phẫu thuật sau đó thành công tốt đẹp làm rạng danh tên tuổi của Seishu và được lãnh chúa Tokugawa Harutomi ban cho một thanh kiếm.

Ảnh: loài hoa cà độc dược, một trong những thành phần được Seishu sử dụng để bào chế thuốc (wikipedia)

Dù ca mổ đã thành công tốt đẹp nhưng thật không may, bệnh nhân đã chết khoảng 4 tháng rưỡi sau đó. Về mặt y học, để xem xét tính hiệu quả của dược liệu, cần phải lặp lại thí nghiệm nhiều lần trên trên động vật và cuối cùng là thử nghiệm trên người. Có thông tin cho rằng mẹ và vợ của ông đã tình nguyện hợp tác. Tuy nhiên, người mẹ đã qua đời và người vợ thì bị mất thị lực.

Cuộc cách mạng mà Seishu đã mang lại trong điều trị ung thư vú

Sau khi thành công trong ca phẫu thuật ung thư vú đầu tiên, nhiều bệnh nhân ung thư vú từ khắp nơi trên toàn nước Nhật đã đến gặp Seishu. Theo một cuốn sổ tay ghi chép lại về bệnh nhân ung thư vú của Seishu, số ca mổ do ông thực hiện là 152 ca, trong đó có 33 ca được tiết lộ rõ ràng.

Thời gian sống thêm trung bình sau phẫu thuật là 2-3 năm (tối thiểu 8 ngày, tối đa 41 năm). Có thể nói rằng, vào thời điểm mà chưa có công nghệ xét nghiệm và kĩ thuật ngoại khoa chưa được tiên tiến như ngày nay, các cuộc phẫu thuật của Seishu thực hiện chắc chắn đã mang lại kết quả với mức độ nhất định và tạo ra một cuộc cách mạng trong việc điều trị ung thư vú ở Nhật Bản.

Trong khi vào năm 1846, thế giới mới công nhận nha sĩ người Mỹ, William Morton, là người thành công với phương pháp gây mê bằng đường hô hấp, được cho là khởi đầu của phương pháp gây mê hiện đại thì trước đó khoảng 42 năm trước đó, tại Nhật Bản, vào thời Edo, đã có một bác sĩ đã đi trước một bước trong lĩnh vực ngoại khoa.

Ánh Hiền

Nguồn: https://www.gbni.co.jp/recipe/ca-phau-thuat-gay-me-toan-than-dau-tien-tren-the-gioi-la-phau-thuat-cat-bo-ung-thu-vu-trong-thoi-ky-edo/?fbclid=IwAR00a8MiBR15AlIwKZNuSA7jFFWoQJ7Ohtcb5vNCX1Ny4Bw6fURfplDOmI4


Thứ Năm, 7 tháng 1, 2021

Tỷ lệ thất nghiệp của Nhật Bản do đại dịch Covid chủng mới? Ngành nghề nào thuộc nhóm nguy cơ cao nhất?


Theo kết quả khảo sát của Công ty Teikoku Databank công bố vào ngày 15 tháng 9, tại Nhật đại dịch Corona chủng mới "có tác động tích cực" cao nhất đối với các nhà bán lẻ sản phẩm như siêu thị với tỉ lệ gần 40%. Trong đó, có đến 3/4 công ty kinh doanh bán lẻ có áp dụng các biện pháp kỹ thuật số. Ngược lại, sự lây lan của bệnh dịch Corona chủng mới lại khiến nhiều ngành khác rơi vào đình trệ và phá sản. Thất nghiệp, bị sa thải, giảm lương là những mối lo thường trực của người lao động trong cơn khủng hoàng này.


Theo Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi, hơn 63.000 người đã mất việc làm do bị sa thải hoặc đình chỉ việc làm do ảnh hưởng của virus corona mới (tính đến ngày 2 tháng 10 năm 2020). Tính từ ngày 25 tháng 5 đến ngày 2 tháng 10 năm 2008, hơn 31.000 người lao động không chính quy như nhân viên hợp đồng và nhân viên tạm thời đã bị sa thải. Trong đó, tỷ lệ nữ giới không chính quy là 53,9%, cao hơn nhiều so với nam giới (22,2%), so với cùng tháng năm trước số lao động đã giảm 840.000 người và 360.000 người so với nam giới (heo kết quả khảo sát“Lực lượng lao động” cho tháng 8 năm 2020).

Nguồn ảnh: Photo-AC

Vậy thì ngành nghề nào thuộc đối tượng nguy cơ cao nhất?

Theo tờ báo Nikkei, số lượng tuyển dụng mới - vốn là một chỉ số hàng đầu về việc làm, giảm 27,8% so với cùng tháng năm trước. Trong đó, tỷ lệ giảm lớn thuộc ngành lưu trú / dịch vụ ăn uống (49,1% ) , tiếp theo là trong ngành dịch vụ / giải trí liên quan đến đời sống (41%). Và số lượng tuyển dụng mới tiếp tục giảm mạnh ở một loạt các ngành như sản xuất (38,3%), thông tin và truyền thông (34,6%) và bán buôn / bán lẻ (34%).

Không chỉ các công ty hàng không và du lịch, mà ngay cả đường sắt, xe buýt, nhà trọ và các ngành khác liên quan đến dịch vụ di chuyển và du lịch đều than thở rằng: "chúng tôi không thể phục hồi lại như trước khi xảy ra Corona."

Vượt qua khủng hoảng

Virus corona chủng mới đã giết chết nhiều sinh mạng, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế và thay đổi nghiêm trọng đến cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Đã có 42,749,607 triệu người nhiễm bệnh trên toàn thế giới và hơn 1,152,489 người chết (tính đến ngày 24 tháng 10 năm 2020).

Hiện tại, chính phủ Nhật đang xem xét các biện pháp kinh tế trung và dài hạn song song với việc thực hiện các biện pháp khẩn cấp như bồi thường thu nhập và bồi thường nghỉ việc để người lao động và doanh nghiệp có thể phục hồi sau khủng hoảng corona. 

Trong cuộc họp báo ngày 16 tháng 10 khi nhậm chức Thủ tướng, ông Suga nói: "Ưu tiên hàng đầu của nội các mới là thực hiện các biện pháp chống lại đại dịch Corona chủng mới. Chúng tôi sẽ ngăn chặn tuyệt đối sự lây lan của các vụ lây nhiễm và hướng tới việc cân bằng các hoạt động kinh tế xã hội".

Vào ngày 14 tháng 10, Akihisa Nagashima, thành viên Hạ viện của LDP đã đệ trình yêu cầu lên Tân thủ tướng về các biện pháp kinh tế cụ thể, trong đó có chính sách hỗ trợ khoản tiền 50.000 yên cho mỗi người. Thủ tướng Suga, người nhận được yêu cầu, dường như đã đáp lại rằng, "Tôi sẽ làm hết sức mình theo hướng đó."

Hiện tại, vẫn chưa rõ phía nội các mới của ông Suga sẽ có chương trình hỗ trợ cụ thể như thế nào. Nhưng chúng ta có quyền hi vọng về một tương lai tươi sáng hơn trong thời gian sắp đến bên cạnh việc không ngừng trau dồi theo các kĩ năng mới để sẵn sàng cho cuộc chuyển đổi công việc trong trường hợp xấu nhất.


Ánh Hiền

Nguồn: https://www.gbni.co.jp/recipe/ty-le-that-nghiep-cua-nhat-ban-do-dai-dich-covid-chung-moinganh-nghe-nao-thuoc-nhom-nguy-co-cao-nhat/